""

Người cao tuổi Việt Nam theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

     Theo kết quả TĐTDS 1/4/2019, tổng số dân của Việt Nam là 96.208.984 người, trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8% và dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%. Số người từ 60 tuổi trở lên là 11,409 triệu người. Số người từ 65 tuổi trở lên là 7,417 triệu người. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê dân số trung bình năm 2019 là 96,484 triệu người, tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên theo TĐTDS là 11,8%, tỷ lệ người 65 tuổi trở lên là 7,7%.

     Theo kết quả điều tra BĐDS 2018 của TCTK, dân số 1/4/2018 là 94,666 triệu người. Tỷ lệ người 60 trở lên là 13,6%, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên là 8,9%, như vậy ước tính số người cao tuổi của Việt Nam theo kết quả điều tra Biến động dân số và KHHGĐ năm 2018 đã lên đến 12,875 triệu người từ 60 tuổi trở lên, số người từ 65 tuổi trở lên là 8,425 triệu người. Ở đây cần biết rằng kết quả của các cuộc điều tra đều có một tỷ lệ sai số nhất định, trong TĐTDS có sai số trùng và sót do đăng ký toàn bộ gần 100 triệu người. Năm 1999 với sự trợ giúp của Quĩ dân số LHQ đã mời chuyên gia của Cục Thống kê TW Úc vào giúp Việt Nam đánh giá sai số của TĐTDS 1989 ở Việt Nam đã nhận định, “với qui mô dân số của Việt Nam sai số trong TĐTDS nếu dưới 5% thì là thành công”, năm đó theo đánh giá của chuyên giá tỷ lệ sai sót trong TĐTDS của Việt Nam là 2,3%”. Số liệu điều tra Biến động dân số năm 2018 là điều tra mẫu, do đó sẽ có sai số chọn mẫu. Như vậy với sai số của hai cuộc điề tra này thì ước tính hiện nay số người cao tuổi từ 60 tuori trở lên ở Việt Nam là khoảng 12 triệu người. Số người cao tuổi từ 65 tuổi trờ lên khoảng 8 triệu người.     

Kết quả TĐTDS 2019 cho biết, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73,6 tuổi; trong đó, tuổi thọ của nam giới là 71,0 tuổi, của nữ giới là 76,3 tuổi. Từ năm 1989 đến nay, tuổi thọ trung bình của Việt Nam liên tục tăng, từ 65,2 tuổi năm 1989, tăng lên 73,6 tuổi năm 2019. Chênh lệch về tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ qua hai cuộc Tổng điều tra gần nhất hầu như không thay đổi, duy trì ở mức khoảng 5,4 năm. Năm 1960 tuổi thọ bình quân của dân số thế giới là 48,0 tuổi, của dân số Việt Nam là 40,0 tuổi, thấp hơn tuổi thọ bình quân của thế giới 8 tuổi, nếu tính theo mức tăng tuổi thọ bình quân cao nhất là 0,1 tuổi/năm thì cần khoảng 80 năm để tuổi thọ bình quân của Việt Nam tăng lên bằng mức chung của thế giới. Năm 2019 tuổi thọ bình quân của dân số thế giới là 72,0 tuổi, của dân số Việt Nam đã là 73,6 tuổi, cao hơn tuổi thọ bình quân của thế giới 1,6 tuổi, nếu cũng tính theo mức tăng tuổi thọ bình quân cao nhất là 0,1 tuổi/năm thì dân số Việt Nam đã già hóa dân số hơn dân số thế giới khoảng 16 năm. Như vậy tổng thời gian dân số Việt Nam già hóa nhanh so với mức chung của Thế giới là khoảng 96 năm.

  • Tỷ số phụ thuộc

Tỷ số phụ thuộc là chỉ tiêu đánh giá gánh nặng của dân số trong độ tuổi lao động. Tỷ số phụ thuộc chung biểu thị phần trăm của dân số dưới 15 tuổi và từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15-64. Trong đó, tỷ số phụ thuộc trẻ em biểu thị phần trăm của dân số dưới 15 tuổi trên 100 người ở nhóm tuổi 15-64 và tỷ số phụ thuộc người già biểu thị phần trăm của dân số từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15-64. Kết quả Tổng điều tra năm 2019 cho thấy, trong 10 năm qua, tỷ số phụ thuộc chung của nước ta tăng 2,4 điểm phần trăm, chủ yếu là do tăng nhóm dân số già từ 65 tuổi trở lên.

Biểu 1: Tỷ số phụ thuộc, 1999 - 2019

Đơn vị: %

 

1999

2009

2019

Tỷ số phụ thuộc trẻ em (0-14)

54,2

35,4

35,7

Tỷ số phụ thuộc người già (65+)

9,4

9,3

11,3

Tỷ số phụ thuộc chung

63,6

44,7

47,1

 

Già hóa dân số

Già hóa dân số phản ánh quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng tỷ trọng dân số già, được thể hiện qua chỉ số già hóa.

Biểu 2: Chỉ số già hóa theo vùng kinh tế - xã hội

 Đơn vị: %

 

Tổng số

Thành thị

Nông thôn

 

TOÀN QUỐC

48,8

50,8

47,9

Trung du và miền núi phía Bắc

36,3

49,1

33,7

Đồng bằng sông Hồng

57,4

56,4

58,0

Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

52,2

50,8

52,7

Tây Nguyên

28,1

36,1

25,4

Đông Nam Bộ

42,8

45,3

39,2

Đồng bằng sông Cửu Long

58,5

60,3

57,9

 


Tác giả: TS. Nguyễn Quốc Anh